|
|
Về experimental và các cách tiếp nhận nghệ thuật
Experimental nếu dịch ra tiếng Việt có nghĩa là (thuộc về) thực nghiệm, thí nghiệm, tức là dựa trên quan sát, phân loại, nêu giả thuyết và kiểm nghiệm giả thuyết bằng thí nghiệm. Experimental music/film khi du nhập vào Việt Nam lại hay được dịch thành âm nhạc/phim ảnh thể nghiệm, nhấn mạnh vào cái tính “thử/ kiểm nghiệm” mà vô hình trung lại làm mờ đi lớp nghĩa về “kinh nghiệm cá nhân” mà nó hàm chứa. Từ cách hiểu đó, ta hay xét experimental music/films là các sản phẩm của sự tìm tòi, thử nghiệm của tác giả khi sáng tạo ra sản phẩm đó. Cách hiểu này không phải không đúng, nhưng nó không thể hiện được hết bản chất của experimental là gì. Experimental, trong cách định nghĩa và suy nghĩ của tôi, là những sản phẩm bắt nguồn TỪ những kinh nghiệm thực tế mà tác giả đã trải qua. Nói cách khác, tác giả phản ánh lại những kinh nghiệm cá nhân, những hồi ức, những kỷ niệm của riêng mình vào một đối tượng nghệ thuật cụ thể. Nó tạo nên sự khác biệt cơ bản giữa nghệ thuật experimental và các thể nghệ thuật popular khác. Đối với các sản phẩm văn hóa đại chúng, người tiêu dùng mong muốn nhận được một sản phẩm liền mạch cả về nội dung lẫn hình thức. Nó phù hợp với mạch suy nghĩ và cảm xúc cũng như khả năng nắm bắt thông tin trong một khoảng thời gian ngắn của người thưởng thức. Nếu không đảm bảo tính thống nhất và hợp lý đó, các đối tượng thưởng thức sẽ bị gây nhiễu và cảm thấy bối rối. Cách tiếp nhận nghệ thuật thụ động như vậy tạo điều kiện cho các đạo diễn lẫn nhạc sĩ khả năng dẫn dắt người xem/nghe đi theo ý đồ nghệ thuật mà mình đã dày công xếp đặt từ trước. Cách tiếp nhận nghệ thuật này gần tương tự với việc đọc một tiểu thuyết vì dù người đọc có những ý kiến trái chiều đi chăng nữa thì nó cũng chỉ xoay quanh nội dung và ý nghĩa quyển sách, do đó, quá trình sáng tạo nghệ thuật cũng hầu như kết thúc khi tác giả hoàn thành quyển sách đó.
Experimental lại đòi hỏi cách thức tiếp nhận khác hẳn. Với mỗi câu nhạc ngắn, mỗi scene film ngắn, các tác phẩm experimental lại gần như đã hoàn thành một bức tranh nhỏ có đầy đủ bố cục, nội dung và chi tiết. Mỗi tiểu khúc đó chính là một mảng khác nhau của cái trải nghiệm, cái hồi ức của tác giả. Và cũng với mỗi tiểu khúc đó, người thưởng thức dựa trên những trải nghiệm cá nhân để ánh xạ lại một cách hiểu “riêng” vào nhận thức của mình. Với một tác phẩm experimental, yêu cầu về tính liền mạch, về dòng chảy (flow) không được đòi hỏi cao, thậm chí đôi khi hoàn toàn bị bỏ qua. Người thưởng thức có thể không cần nắm bắt được những nội dung trước đó hay sau đó để có thể cảm được một “tiểu khúc” hiện thời. Cũng do tính độc lập cao của các “mảnh ghép” này, mỗi cá nhân có thể “bắt” được những trải nghiệm rất khác nhau trên cùng một tác phẩm. Quá trình sáng tạo (lại) sẽ lại bắt đầu mỗi khi có một người thưởng thức mới tiếp xúc nó hoặc một người thưởng thức cũ tiếp nhận lại trong một điều kiện môi trường và hoàn cảnh mới. Do đó, khả năng để một cá nhân có thể “hiểu” hết toàn bộ nội dung tác phẩm chỉ trong một lần tiếp nhận và một môi trường duy nhất có thể gọi là không tưởng. Tất nhiên, mỗi loại hình nghệ thuật đều tồn tại vì một đối tượng khán giả riêng với những tính cách đặc thù. Sẽ là khập khiễng nếu như so sánh cả hai dựa trên cùng một tập các tiêu chí cụ thể, và việc một cá nhân thuộc lớp đối tượng này cố gắng phán xét những gì mình không thuộc về (và không thuộc về mình) chỉ dẫn đến những trò lố bịch, tuy nhiên, đó lại là một câu chuyện hoàn toàn khác. GS |