|
|
Nhạc điệu tội lỗi, Pt 6
Bài viết được dịch từ paper "Becoming a fan: On a Seduction to Opera" của tác giả Claudio E. Benzecry, được lưu hành trực tuyến ngày 24/02/2009 Có thể xem tại: http://www.springerlink.com/content/n27hn04200222305/fulltext.pdf Phần 1: http://www.m-mosaic.com/articles/music/read/489.html Phần 2: http://www.m-mosaic.com/articles/music/read/510.html Phần 3: http://www.m-mosaic.com/articles/music/read/511.html Phần 4: http://www.m-mosaic.com/articles/music/read/512.html Phần 5: http://www.m-mosaic.com/articles/music/read/513.html ------- Trường hợp 2: khi “nhạc sư” hành động Nhiều nhạc viện ở Buenos Aires lên lịch các tọa đàm cũng ăn theo mùa opera. Nhà hát opera Colón cũng có một chương trình giảng dạy miễn phí bởi các nhà phê bình trực thuộc cũng như các thành viên của Italian Circle[G1] . Cả hai công ty opera nằm ở Avenida (Juventus Lyrica và Buenos Aires Lírica đều bắt đầu có những khóa học định kỳ của mình, một tại thư viện quốc gia, cái còn lại ở một tổ chức văn hóa tư – nơi đồng thời tài trợ khóa học “Opera for Kids” ở tại Colón. Có khoảng 800 người sẵn sàng trả tới 25 peso[G2] (bằng ghế ở tầng trên cùng của nhà hát) chỉ để thấy Marcelo Arce, một nhà phê bình âm nhạc đồng thời là nhà tranh biện, thảo luận về mùa kịch năm nay trên màn hình lớn tại nhà hát Avenida. Arce thực ra có tới 3 loạt bài thuyết trình và “giáo huấn âm nhạc” khác nhau, như cách gọi của ông, và không phải lúc nào cũng tập trung vào opera. Một vài nhà phê bình khác cũng có những lớp và bài giảng riêng của mình. Một số, như Esteban Saavedra, thường khuyến mãi thêm cả sự xuất hiện của các nghệ sĩ chuyên nghiệp có tên trong bảng phân vai của nhà hát Colón (đôi khi có cả những ca sĩ hát live), trong khi số khác, thường được đỡ đầu bởi các khán giả giàu có hơn, tỏ ra trội hơn hẳn khi tổ chức những chuyến đi tới The Met[G3] , hay thậm chí xịn hơn nữa, the Bayreuth Festival[G4] . Trong khi đó, rất nhiều “nhạc gia” nghiệp dư đưa ra những khóa học thưởng thức ngay tại căn hộ của họ. Ở đó, họ sẽ bật bản DVD của các vở của mùa hiện tại hay tập trung vào các chủ đề đặc biệt như vở Ring của Wagner. Tôi quan sát kỹ lưỡng một cua học ngắn ở một trường Đại học địa phương nhỏ nằm gần Avenida. Hầu hết các bài thuyết giảng đều có từ 30 đến 70 người theo dõi, tùy thuộc vào tên tuổi của vở kịch cũng như của người thuyết trình. Rất nhiều người tham gia khóa học đều chuẩn bị tham dự buổi diễn của tuần đó, họ cố gắng nhớ lại đường dây câu truyện hay những giai thoại vặt vãnh chung quanh nó, hay đơn giản chỉ hy vọng được thưởng thức một buổi trình chiếu miễn phí của vở opera đó. /*** Phác thảo một lớp học opera Vào một buổi tối thứ tư tháng 7 năm 2004, tôi có mặt tại một phòng nhỏ ở tầng hầm của một Đại học tư tại Buenos Aires. Căn phòng thường được sử dụng như một giảng đường và bàn ghế được sắp xếp như tại bất cứ học viện nào khác. Có khoảng 50 người ở trong phòng, hầu hết đều ở độ tuổi 50, chỉ có 8 hoặc 9 học viên có vẻ nhỏ hơn 30 tuổi. Hầu hết mọi người đều đang ngồi rải rác ở trong phòng, háo hức chờ “ngài giảng viên”. Lớp học này, cũng như vô số lớp khác diễn ra trong tuần này ở Buenos Aires, không phải là một seminar mang tính chất giáo dục dành cho người trưởng thành mà chỉ là một buổi trò chuyện công cộng về việc làm thế nào để thưởng thức vở La Fanciulla del West (The Girl of the Golden West, một vở opera của Puccini) một cách đúng cách. Vị “nhạc gia” trong bộ trang phục màu xám tro bước vào phòng, trên tay cầm theo một xấp tài liệu. Là một trong những nhà phê bình đáng kính nể của cái thành phố Buenos Aires này, ông cao khoảng 6.3 foot[G5] , tóc chải gôm bóng mượt. Ông cười mỉm khi một phụ nữ thở nhẹ ra trong khi những người khác khẽ gật đầu chào. Ông chắc rằng đã nhận ra vài người trong số họ từ các buổi thuyết trình trước. Ông đi cùng với một đồng sự, một nhà phê bình khác vốn là cựu ca sĩ và gần đây vừa phát hành một tập san miễn phí bao quát tình hình âm nhạc ở Buenos Aires, mà đặc biệt là opera. Trước khi đoạn phim bắt đầu được chiếu, giảng viên cung cấp một số thông tin nền: “Vở opera này đã được dựng tại nhà hát Colón vào các năm 1911, ’15, ’20, ’30, ’51, ’79 và ’86…” Ông tiếp tục: “Nếu bạn cần mô tả Puccini, thì những từ ngữ đầu tiên xác đáng dành cho ông phải là trữ tình, giàu âm hưởng giao hưởng với vẻ đẹp hài hòa… Được rồi, đi nhanh vào đặc trưng âm nhạc… Xem kìa, đó chính là đặc trưng âm nhạc của vở opera này. Nó nằm trong khúc aria[G6] mở đầu nhưng cũng nằm trong đoạn kết và nằm trong một trong những cảnh giữa. đó không phải là một đoản khúc mê ly sao?... Tôi hy vọng các bạn hiểu rằng đây là một cảnh vô song… Nó lan tỏa qua ngôn ngữ của Puccini, thật uyển chuyển. Đầy cảm xúc và đam mê” Vị “nhạc gia” chỉ ra hai trong số các cảnh khác, nhấn mạnh một trong những thông điệp chính, và trong khoảng một tiếng rưỡi, trình bày một bài nói đầy nhóc các tính từ cảm thán, các chi tiết trong luận cứ lần lượt đề cập tới hoàn cảnh sáng tác, sự nghiệp của các ca sĩ trong video, chất lượng và số phận của các phiên bản khác nhau cùng được diễn tại Colon của vở này. ***/
Cảnh tượng này cho chúng ta một cái nhìn khá tốt về những gì diễn ra trong các lớp học này. Một nhân vật với vai trò ơn trên giải thích vài khúc của tác phẩm với kho từ vựng chuyên dành cho các thể loại nhạc lãng mạn: hài hòa, nhạc điệu, hát cùng dàn hợp xướng; cảm xúc mãnh liệt; sự tinh tế của âm nhạc đằng sau những câu chữ. Những lớp học dạng này đều đưa ra những định nghĩa về “mỹ cảm” như là “sự hài hòa trong tổng phổ và sản phẩm của những cảm quan sâu sắc đem lại cho mỗi khán thính giả cảm nhận của riêng mình trong lặng im”. (Johnson 1995, trang 48[G7] ). Đồng thời, những lớp học này còn tung hô các nghệ sĩ opera trở thành những con người tài năng đáng ngưỡng mộ như hiện thân của cái đẹp, và thậm chí, cả những cảm xúc mà thứ âm nhạc đó mang lại. Chẳng có gì nhiều để nói về âm nhạc, khi mà âm nhạc và ngôn ngữ là 2 hệ thống phân biệt và âm nhạc chỉ có thể được lĩnh hội qua các phép ẩn dụ và nỗ lực tập trung của người nghe. Bởi vì người thuyết trình chẳng thể trình bày gì nhiều về thứ âm nhạc đằng sau những thông tin mà ông ta cung cấp cho người nghe như công cụ để “giải mã” ý tưởng của tác giả - một nhân tố quan trọng của nhạc trữ tình – ông ta đành phải nói về tất cả những thứ khác: các ngày tháng, diễn viên và cả những giai thoại xung quanh cuộc đời tác giả và những nghệ sĩ nổi tiếng. Rồi sau đó ông ta sẽ bắt đầu tán chuyện về vở opera mới trên những gì ông đã lượm lặt được từ những buổi diễn phúc khảo cuối cùng. Những lớp học và buổi thuyết giáo kiểu này còn có mục đích khơi lại quá khứ của Colón như cách để hiểu được các vở diễn và đêm diễn – nói riêng, và nghệ thuật opera – nói chung. Hầu hết các lớp tử tế đều tập trung vào những vở đang được trình chiếu trong season này tại Buenos Aires và tận dụng những lần công chiếu cũ ở “Coliseum đầu tiên” [G8] của thành phố như tư liệu. Trong một lớp học tương tự như ví dụ ở trên, một nhà phê bình – một “bật thầy” đến từ cùng tờ báo trên, bao quát hết những khúc aria quan trọng từ vở Lucia của Donizetti, cho xem qua những phiên bản dựng khác nhau tại Colón và những nghệ sĩ hàng đầu sau đó. Ông ta đề cập đến Tita Ruffo và Maria Barrientos trong lần ra mắt đầu tiên năm 1911, nhưng cho xem bản dựng năm 1930 với Lily Pons lần đầu tiên nổi bật giữa dàn diễn viên. Sau đó ông tổng hợp tất cả ca sĩ thời 1950 và cho xem phiên bản 1972 với Beverly Sills và Alfredo Kraus, không quên nhấn mạnh, “Đây là bản xưa nhất ta có thể xem live, như mọi thứ đã từng, trong bộ tổng hợp toàn tập các phiên bản live của nhà hát Colón từng phát hành. Hai nghệ sĩ này đặt dấu ấn vào thời của họ, do đó không nghi ngờ gì đây là phiên bản Lucia tuyệt nhất mà các bạn từng nghe”. Ở đoạn cuối khúc aria, khoảng 60 người trong phòng giảng vỗ tay theo những tiếng vỗ không dứt của các khán giả trong đoạn băng. “Bạn còn nhớ bản này chứ?”, ông ta hỏi, “chúng ta đã từng nằm trong số khán giả này”, và một số người gật đầu tán đồng. “Có ai còn nhớ Tulio Boni không?”. Mọi người trong giảng đường lập tức hô “Có” đầy tự hào. “Đoạn điệp khúc được phụ trách bởi Tulio Boni”, ông hồi tưởng. Lớp học tiếp tục với một phiên bản của nhà hát Metropolitan hát bởi Caruso và Alicia Galli Curci từ 1911, mà vị giảng viên khẳng định nó cũng đã trở thành một phần của truyền thống nhà hát, “họ cũng đã hát tại Colón vào năm 1915”.
Mối liên kết giữa opera và Colón như một dòng nhạc và như một thực tiễn được dạy cẩn thận tại Colón, ngay cả khi các bản thu không thể hiện điều đó trực tiếp. Người dẫn dắt sẽ thêm vào một vài cái tên lớn để chứng minh cho mối thâm giao giữa Colón và opera. Nó cho thấy sự liền lạc giữa quá khứ và hiện tại , liên kết những nghệ sĩ như Caruso, Pons và Krause – người hát Lucia ở Colón – với ngôi sao quốc tế người Argentine Marcelo Alvárez, người đã thu âm vở đó ở nước ngoài. Bằng cách đó, các bài học sẽ bảo đảm học viên hiểu được tầm cao của Colón vào đầu những năm 70 và hiện tại chỉ là giai đoạn thoái trào, nhưng ngầm định rằng phong cách opera truyền thống của Colón vẫn còn sống trong những nghệ sĩ Argentine vĩ đại không thể đến vì lý do kinh tế (Alvarez, Cura, Lima) nhưng đạt được vinh quang ở nước ngoài. Những hoài niệm đẹp đẽ của quá khứ, với cả những phong vị đẹp đẽ và những câu hỏi khoa trương, là một cách khác để diễn tả và phác họa lại những ranh giới của những người thuộc cộng đồng văn hóa opera. Như trong những ngõ nhập môn khác (Turner 1967, 1974), những kẻ nhập môn được truyền đạt những khái niệm đơn giản để nhận ra (nghệ sĩ, giọng, dàn diễn viên, tác giả, vở kịch), rồi mới giúp họ nắm được những mục đề như giai điệu, hòa âm, cảm xúc, để cho họ có thể có thể suy nghĩ trên tổng thể, dựa trên những tham khảo siêu kinh điển (nhà hát Colón, các nghệ sĩ vĩ đại trong nước và quốc tế) Như chúng ta có thể thấy, sự nhiệt tình và kiến thức của nhạc sư, trái ngược với lòng tôn sùng mà những người trong cộng đồng opera dành cho ông ta, thì lại không quá “tuyệt kỹ bí truyền”[G9] . Những thứ mà họ có chỉ sâu và rộng hơn một chút so với những gì một người nghiệp dư có[G10] . Thực tế là, trong một vài “lớp”, một số người tham dự đã biết trước họ sẽ được “học” những gì. Họ chỉ đơn giản đến lớp để làm mới lại những ký ức trước khi đến dự buổi diễn, hay thậm chí là, thay thế cho việc đến dự buổi diễn, điều mà trở nên khá đắt đỏ, vì hầu hết những người tham dự đều đã về hưu, hoặc quá mệt mỏi, khi việc đứng 4 tiếng đồng hồ 1 lúc là việc mà họ không chịu đựng được nữa. Một cảnh khác từ một lớp do một phát thanh viên kiêm phê bình của một tờ báo tiếng Anh tại Buenos Aires thể hiện rõ sự tương đồng kiến thức giữa một nhà phê bình và một người hâm mộ. Trong khi đang thảo luận về dự tính của Buenos Aires dựng vở Don Quichote của Massenet, nhà phê bình này đã mắc phải ba lỗi sai. Đầu tiên, ông ta gán vở Rosenkavalier của Strauss sang cho Stravinsky sáng tác; sau đó, trong khi đang tổng kết lại những tác phẩm quan trọng của nhà soạn nhạc người Pháp này, ông ta bao gồm cả vở opera hiếm khi được dựng Opera và bỏ quên hẳn Werther – và chỉ nhớ tới khi một người phụ nữ trong khán phòng nhắc; cuối cùng, ông đề cập đến lần cuối cùng vở Thais của Massenet được diễn tại Buenos Aires bởi giọng soprano nổi tiếng địa phương Delia Rigal vào năm 1950, một người đàn ông già ngay lập tức phẫn nộ phản đối: “1952!”, và nhà phê bình xác nhận đó mới là thời điểm chính xác [G11] – đây có lẽ là lỗi duy nhất mà chúng ta có thể chứng kiến được sự thông thạo (của mọi người) về loại kiến thức này. Để tổng kết lại, các “nhạc sư” đóng vai trò kép. Một mặt, họ là những con giống tối cao của cộng đồng nghiệp dư. Mặt khác, họ đóng vai trò kẻ cả khuyến khích người nghe mới học tập cả cách phiên dịch đúng cách các ngôn từ âm nhạc[G12] và cả thái độ hợp thời để thưởng thức thể loại âm nhạc đó. Tuy nhiên, những buổi trò chuyện trực tiếp và những bài giảng không phải là phương cách duy nhất để người hâm mộ nhận thức được cái gì cần trân trọng và trân trọng nó như thế nào. Những cách khác có thể lấc cấc và thậm chí đôi khi là thô thiển. Tôi sẽ dành mục kế tiếp để mở rộng và phân tích những vấn đề này sâu hơn. [G1]Một tổ chức do 2 người Ý lập ra từ năm 1997. Mục đích của hội là giúp đỡ bất cứ ai có hứng thú với văn hóa, nghệ thuật, ẩm thực, lịch sử hay phong cảnh của Ý. [G2]Theo tỉ giá hiện tại là khoảng 6.5USD [G3]Metropolitan Opera được sáng lập năm 1880 ở New York, là tổ chức về nhạc cổ điển lớn nhất thế giới, với 220 vở opera diễn hàng năm. [G4]Một liên hoan âm nhạc diễn ra hàng năm ở vùng Bayreuth, Đức. Trong liên hoan này, các bản opera của Wagner sẽ được biểu diễn. Muốn có vé tham dự liên hoan này đôi khi phải đặt trước vài năm. [G5]1m92 [G6]Khúc nhạc được viết dành cho một giọng duy nhất hát chung với dàn giao hưởng [G7]Johnson (1995) đã tìm về sự bắt đầu của thói quen nghe nhạc trữ tình từ cuối thế kỷ 19. Nó là một cách thức nghe nhạc mới mà trong đó không còn chỉ là những cảm nhận cá nhân, tách biệt khỏi cộng đồng, không thể diễn đạt bằng lời mà đã bổ sung thêm những nghi thức ứng xử cũng như sự biến đổi lột xác của các nhà hát và khán phòng. Kết quả sẽ dẫn tới những cảm nhận mới mẻ: sâu sắc hơn, cá nhân hơn và mạnh mẽ hơn. – chú thích của tác giả [G8]Coliseum (tên gọi ám chỉ đến Colosseum, một trong những đại hí trường nổi tiếng nhất thế giới, nay đang tọa lạc ở Rome) – First Coliseum là tác giả muốn đề cập đến nhà hát Colón, nhà hát opera đầu tiên ở Buenos Aires. [G9]Dạy một lớp như vậy không đòi hỏi những kỹ năng đặc biệt như đọc bản tổng phổ hay chơi 1 nhạc cụ nào đó, hay nghiên cứu nghiêm túc đòi hỏi những bằng cấp chuyên nghiệp như âm nhạc học hay một sự thấu hiểu trọn vẹn các lý thuyết âm nhạc khác nhau. Nó chỉ đơn giản là gom các suất diễn, bút pháp, diễn viên, tác giả. Mặc dù vậy, nó cũng bao gồm một loại hiểu biết tích lũy từ kinh nghiệm, sự hiểu biết bằng các so sánh giữa các màn diễn tốt, sự phân loại các giọng hát không phải chỉ dựa vào các quãng âm (VD: soprano) mà còn trên phong cách hát (ligera – hơi thanh, lirica – tự sự, dramatica – kịch tích, de coloratura - giọng cao…) và nét đặc trưng (hát giọng trầm tốt hơn ở những quãng thấp, giọng có bị vỡ ở note cao nhất của quãng, quãng của giọng rộng hay hẹp…) Như tôi đã nói, các loại kiến thức này có thể lĩnh ngộ bởi bất cứ ai đủ hứng thú để đắm mình trong thế giới opera. Mặc dù vậy, theo tôi quan sát khi trò chuyện với các nhà phê bình khi theo dõi rất nhiều màn diễn như một phần công việc, đó là kết quả của thói quen được lĩnh hội trong những thời gian không làm việc của một người hâm mộ opera. [G10]Hầu hết các “giảng viên” hay “bậc thầy” đều không phải những nhạc sĩ chuyên nghiệp, nhà nghiên cứu âm nhạc, hay thậm chí nhà sử học. Họ là những luật sự, kế toán hay nhà vật lý trót yêu “âm ly” (bel canto) và đạt tới 1 tầm cao hơn cộng đồng opera nơi mà họ bắt đầu thể hiện qua những hoạt động có tính phí cho báo chí, chương trình radio, thuyết trình công cộng, hay đôi khi, các tạp chí miễn phí. Những tờ báo bảo đảm cho họ không chỉ sự kính nể trong cộng đồng, đặc trưng bởi các danh xưng “giảng viên” hay “bậc thầy”, mà còn là sự lưu hành miễn phí giữa các học viện cấu thành nên thế giới opera. [G11]Delia Rigal hát màn chính trong cả bốn buổi trình diễn trong mùa 1952. Cô là một ngôi sao địa phương và chỉ chia sẻ tiếng tăm 1 lần duy nhất khi Maria Callas cùng hát vở Aida năm 1949 [G12]Khi tôi hỏi những thính giả mộ điệu của các buổi hòa nhạc miễn phí dùng những tính từ nào tốt nhất để miêu tả opera, hai trong số họ trả lời riêng rẽ: “âm nhạc chẳng thể tinh giản thành ngôn từ. Âm nhạc và ngôn từ thuộc về hai phạm trù suy nghĩ khác nhau; âm nhạc. Âm nhạc thuộc về một phạm vi không-thể-nói-thành-lời” và “Tôi không hiểu ngôn từ. Tôi chỉ phiêu theo âm nhạc” GS |