Welcome to M!osaic

 
 
 

 

M! » Articles » Music » Nhạc điệu tội lỗi, Pt 7
Nhạc điệu tội lỗi, Pt 7

Bài viết được dịch từ paper "Becoming a fan: On a Seduction to Opera" của tác giả Claudio E. Benzecry, được lưu hành trực tuyến ngày 24/02/2009

Có thể xem tại: http://www.springerlink.com/content/n27hn04200222305/fulltext.pdf

Phần 1: http://www.m-mosaic.com/articles/music/read/489.html

Phần 2: http://www.m-mosaic.com/articles/music/read/510.html

Phần 3: http://www.m-mosaic.com/articles/music/read/511.html

Phần 4: http://www.m-mosaic.com/articles/music/read/512.html

Phần 5: http://www.m-mosaic.com/articles/music/read/513.html

Phần 6: http://www.m-mosaic.com/articles/music/read/515.html

-------

Trường hợp 3: “Địa” nhãn

Những người hâm mộ già dặn sử dụng cách im lặng hoặc la ó để biểu thị thái độ của mình với từng tiết mục trình diễn. Cách biểu thị này nhất cử lưỡng tiện vì nó thể hiện được một phần trình diễn có đáng giá hay không hay những khoảnh khắc nào mới đáng được trân trọng. Bất cứ thính giả mộ điệu nào của nhà hát opera đều biết có những đoạn mà, bất kể hay như thế nào, mọi hành vi thể hiện sự ái mộ đều không thích đáng. Minh họa cụ thể này rất quan trọng để ta hiểu rõ làm thế nào fan học cách thưởng thức opera trước “quần chúng” (in foro externo), như trong các hành vi thể hiện được chấp nhận lẫn các hành vi không được chấp nhận.

Có rất nhiều khoảnh khắc mà fan kỳ cựu sẽ suỵt fan mới im lặng, như thể bất cứ tiếng động “lạc quẻ” nào cũng có thể cản trở quá trình “hợp thể” của họ với âm nhạc. Có 3 kiểu “phá bĩnh” chính: (a) một tiếng ồn khó chịu như tiếng ho hay tiếng giấy kẹo; (b) tiếng vỗ tay vào những thời điểm không thích hợp; và (c) những tiếng vỗ tay không xứng đáng. Trong trường hợp đầu tiên, những fan kỳ cựu sẽ ném vào những người ăn kẹo một cái nhìn lạnh lùng và thể hiện dứt khoát rằng đó là hành vi bất nhã nếu hành động phá bĩnh đó tái diễn. Một số người hâm mộ, như Ernesto, lại hoài nghi rằng, những sự gián đoạn đó chỉ xảy ra khi người xem chẳng bận tâm đến âm nhạc nữa và không thể dồn tập trung vào những gì đang xảy ra trên sân khấu. Ông đưa ra ví dụ trong suốt buổi trình diễn mùa đông của ngôi sao quốc tế người Peru Juan Diego Flórez không ai ho lấy một tiếng. Nó cho thấy rằng, theo ông ta, mọi người thật sự chăm chú theo dõi. Trong trường hợp thứ hai, cuộc đối đầu leo thang và fan kỳ cựu sẽ tìm cách làm những kẻ tập tễnh xấu hổ vì không hiểu biết đó là phần đồng ca, hay đoạn aria chưa kết thúc, hay đó là một đoạn aria mà người hâm mộ theo truyền thống không nên thể hiện bất cứ cảm xúc nào, vì đó chưa phải lúc cần hoan reo. Phản ứng tức thời ngay lúc đó hầu hết là một tiếng “Suỵttt…” giận dữ, mà thông thường sẽ lớn hơn cả những tiếng vỗ tay.

Những người trẻ tuổi, đối tượng chính bị lườm nguýt,  tại một buổi opera ngoài trời

Những phép dàn xếp kèm theo[G1]  xảy ra ở những vở hiếm diễn như Don Chiquote, I Lombardi hay Der Freischutz. Trong khoảng nghỉ đầu tiên của vở thứ ba, vốn sẽ kết thúc thành công, một trong những trợ lý sân khấu lo ngại rằng sự thiếu nhiệt tình của khán giả nhưng lại hợp lý hóa thái độ đó với sự kém hào hứng do sự nghi ngại dè chừng những cái tên hầu như lạ hoắc của vở diễn. Trong trường hợp này, năng lực tự kiểm duyệt mạnh mẽ đến mức chẳng ai dám vỗ tay ngoại trừ đoạn cuối của mỗi phần và sau khi vở diễn kết thúc. Nhà sản xuất lúc nào chả lo lắng thói hành xử của những người hâm mộ không thuộc về số đông. Một ví dụ có thể nhắc đến, khi sản xuất vở La Traviata tại Luna Park, một sân vận động quyền anh và các buổi trình diễn pop với 8000 chỗ ngồi nhưng hiếm khi được sử dụng cho các vở opera, Bela hào hứng kể lại, “dân tình vỗ tay khi cần vỗ tay, thích những gì cần thích, và rơm rớm ở những đoạn cần rơm rớm”. Nhận xét của Bela cho thấy nghi thức xã giao, sự trân trọng và cảm xúc đi song hành thế nào như một phần của một hệ thống phức tạp mà những quy phạm lễ độ vừa gióng ép vừa khởi tác cảm xúc và cho phép thể hiện nó một cách phải đạo ở nơi chốn công cộng.

Nếu nhìn vào phản ứng của khán giả một cách chi tiết hơn nữa, ta sẽ thấy nhiều quy luật ứng xử thú vị về “tinh thần” nhiệt thành với opera. Một trong số đó trái ngược với (tên) vở adagio[G2]  Primo la Musica, poi le parole[G3]  (âm nhạc trước, lời hát sau), người hâm mộ (và ở đây tôi muốn nói hầu hết người hâm mộ) lúc nào cũng hát theo những khúc giao tấu. Thậm chí, họ còn coi những khúc nhạc dạo interlude của các vở opera, đặc biệt là những khúc recital[G4] , là những khoảng thời gian họ có thể ngừng tập trung một chút, hay buông lời bình luận về những gì vừa chứng kiến, hay đơn giản là thở một hơi. Dân tình xôn xao ở tầng trên thường sẽ hát theo ngay vài nhịp đầu sau khúc aria bùng nổ và đoạn nhạc dạo mở đầu trong hầu hết các vở[G5] .

Sự kết thúc các khúc aria thường được đón nhận theo một trong hai cách. Đôi khi, khán giả vỗ tay vang dội, ví dụ như sau những khúc cabaletta [G6] kiểu Verdi (đoạn kết thúc với nhịp nhanh của bất cứ phần đồng diễn giữa các giọng ca – thường là hai) hay đoạn aria đầu tiên của Alfredo thuộc màn hai của vở La Bohème; họ làm vậy một cách thoải mái trong vài nhịp trong phần nhạc kết. Ở một cách hoàn toàn khác, họ sẽ thở ra, chờ một hoặc hai giây trước khi thể hiện sự ủng hộ của họ sau phần finale piano[G7]  – thường sẽ thể hiện bởi một giọng nữ soprano[G8] . Dù đây là một hình thức ủng hộ dễ lôi kéo sự bắt chước, vẫn có những người hâm mộ nhất định sẽ giữ im lặng trong những thời điểm đó. Ví dụ như, Juan Manuel luôn ghét những ai vỗ tay và la hét giữa những đoạn kết tinh tế đó và luôn tìm cách bắt họ im lặng. Một số lại như Franco, người bỗng chợt trầm ngâm sâu sắc sau khi khúc aria tinh tế kết thúc không phải trong một nốt cảm nặng nề mà bằng khúc bi ca nhẹ thoảng, cố gắng bảo đảm rằng mọi người xung quanh đều phải trân trọng giây phút người ca sĩ buông những lời ca cuối cùng. Sự khác biệt giữa những khúc forte mạnh mẽ và đoạn piano aria cuối bị xóa nhòa, mặc dù, tùy thuộc vào người nghệ sĩ có trình diễn một nốt cao khi sắp kết thúc đoạn solo của mình hay không. Nếu rơi vào trường hợp đó, như trong cảnh chết của vở Lucia, người hâm mộ không nín thở, trái ngược hẳn với sự buồn rầu và trầm ngâm của nhân vật, rồi bắt đầu vỗ tay và chúc mừng ngay lập tức.

Những lính mới được dạy dỗ để phản xạ với những khúc cần nhận biết. Ví dụ, nếu tiết mục aria biểu diễn là Celeste Aida của Verdi và dù nó có thấy gớm đi chăng nữa – cái này không quan trọng lắm, thì khi kết thúc họ vẫn phải vỗ tay rôm rả. Những “người theo gót học chơi” này còn phải vỗ tay nồng ấm sau những tiết mục như Violetta solo “Sempre libera” trong vở La Travia (Verdi), Tosca với “Recondita Armonia”, đoạn aria “Si, mi, chiamano Mimi” trong vở La Bohème (Giacomo Puccini), “Va Pensiero” trong Nabucco (Verdi), và cả “Una furtiva lagrina” trong vở Elisire D’amore (Donizetti). Đó là những mức căn bản. Khi đã tiến bộ hơn, họ sẽ thêm aria Đức vào danh sách các khúc “tủ” cần được vỗ tay của mình, đặc biệt là “uyên ương hồ điệp” trong Tristan und Isolde. Khi mà những người non tay vẫn còn chưa phân biệt được sự tinh vi huyền ảo giữa các tiết mục xoàng xĩnh hay dở tệ, họ sẽ có xu hướng phản ứng nhiệt thành với những gì họ đã nhận biết được từ trước. Một ví dụ tuyệt vời là sự đón nhận nồng nhiệt hơn cả mong đợi đối với Rofoldo, sự thay đổi phút cuối trong buổi trình diễn năm 2003 của vở La Bohème tại nhà hát opera La Plata, trong khi anh bị vỡ giọng ở tất cả các nốt cao và đứng như trời trồng trên sân khấu do thiếu thời gian diễn tập nhưng khi ông hát “Che gelida manina”, mọi người vẫn ngân nga theo và vỗ tay ngay cả trước khi ông kết thúc. Một đạo diễn sân khấu đồng hành cùng tôi chặng đường 45 miles để xem vở này đã gọi đó là “hiệu ứng Bohème”: mặc dù cô biết trước những gì sẽ xảy ra trên sân khấu và phần trình diễn sẽ rất tệ, cô vẫn không thể cản mình xúc động muốn bật khóc, ngân nga theo giai điệu ngay trong lúc trình diễn và sau đó, vỗ tay liên hồi ngoài nhận thức.

 
Vỗ tay tán thưởng cũng cần phải học cách thực hiện cho phải phép

Quay lại với ba dạng phá rối và vỗ tay ngang trái nêu trên, chúng ta có dạng thức cuối cùng, thể loại dễ cà khịa nhau nhất. Ở đó, ta thấy được những nỗ lực của những fan cứng cố gắng đồng đẳng hóa trình độ thưởng thức opera của mọi người trong nhà hát, ít ra là phải ngon lành như họ. Sự thuần dưỡng này bao gồm cả những định nghĩa lớn lao về chân giá trị của opera, những thời điểm lẫn không gian phù hợp để bày tỏ sự trân quý khơi gợi từ những khúc “đắt”, và sự phân định ranh giới với những kẻ se sua a dua học đòi. Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh sự im lặng và những tiếng la phản đối vừa được sử dụng như công cụ bởi cá nhân lẫn đám đông, lại vừa là kỹ thuật khéo léo để tái tạo nhạc cảm trữ tình. Cảm giác bị ngắt ngang khỏi dòng âm nhạc tác động nằm trong cả phương diện[G9]  tập thể và cá nhân. Trên phương diện tập thể, nó là chuyện một cá nhân có khẳng định mình thật xứng đáng nằm trong cộng đồng những người thực sự am hiểu opera hay không, một bài giảng đạo đức dành cho kẻ làm ồn và gây ô nhiễm âm thanh được đưa ra nhân danh của cộng đồng cao quý đó. Trên góc độ cá nhân, đó là sự đứt đoạn khỏi những tình cảm mãnh liệt với một đối tượng cụ thể.

Cái mà tôi gọi là “địa nhãn”[G10] , được khởi phát, với ít nhiều cả niềm tin lẫn sự cưỡng chế tàng ẩn. Trong miêu tả đầu tiên, những fan trẻ tuổi lẫn những người đơn độc thường chấp nhận sự hợp lý của những “nhạc sư” chính thức lẫn không chính thức huấn dưỡng về opera và tích cực hưởng ứng trong những trao đổi cá nhân mà cả miền từ vựng lẫn miền kiến thức đều đã bị/ được giới hạn sẵn. Chuyện này không xảy ra trong một sớm một chiều, nó đòi hỏi một quá trình gắn kết dài lâu với việc nghe những bình luận và mở rộng tri thức với những thông tin về lịch diễn, dàn diễn viên, các tên tuổi và… vốn từ vựng “chuyên môn”; so sánh những gì mình cảm nhận với người khác (Hennion 2007); và tất nhiên không quên để ý những hiệu ứng đặc biệt do các yếu tố nổi bật tạo ra có mạnh mẽ hay không. Như tôi đã giải thích, những người hâm mộ theo mùa chẳng cần giấu giếm những gì họ nghĩ là phép tắc phải đạo chi sất để mà thưởng thức và nó liên quan đến sự hiểu biết về opera nhiều thế nào cũng như những khoảnh khắc mà chúng ta “nên” xúc động. Những điệu bộ giận dữ lẫn tia nhìn chớp qua mà dạt dào cảm xúc nhằm làm câm lặng mọi tiếng ồn ngoài sàn diễn là một minh chứng không thể rõ ràng hơn bản chất cưỡng bức của những kiến thức opera (và cả “chứng nhận văn hóa”) mà họ đạt được.


 [G1]Dành cho những nghiên cứu xã hội học về mối liên hệ giữa những thủ tục lề thói, các sản phẩm văn hóa và những tiết mục trình diễn tự thân nó.

 [G2]Một ký hiệu rằng cần phải chơi nhạc chậm rãi, khoan thai. Còn dùng để chỉ các vở chơi theo kiểu adagio. – chú thích của người dịch

 [G3]Tên một vở opera một hồi của Antonio Salieri – chú thích của người dịch

 [G4]Nhng phần trình diễn độc tấu hay song tấu – chú thích của người dịch

 [G5]Trong những khóa học về verismo (một phong cách viết nhạc opera, trong đó, người soạn nhạc phải tuyệt đối khách quan, không được đưa bất cứ thông điệp hay quan điểm cá nhân nào vào tác phẩm như một kiểu chữ ký phong cách – chú thích của người dịch), Acre cũng dùng  những quãng nhạc dạo như cơ hội để trình bày về vở opera và ý nghĩa của nó

Mô tả một dạng opera gồm 2 phần mà đặc biệt dùng để nhấn mạnh các khúc aria.  Nó có cấu trúc lặp với 2 đoạn  nhạc mang nhịp khác hẳn nhau để dành chỗ cho những khúc aria phức tạp và các đoạn nhạc riêng biệt  [G6]– chú thích của người dịch

 [G7]Phần piano kết thúc vở diễn – chú thích của người dịch

 [G8]Một ví dụ của phần này với giọng nam là phần trình diễn của Edgardo và Raimondo trong khúc aria kết thúc của vở Lucia

 [G9]ở đây, tôi nhại theo thảo luậncủa Katz (1999) về những “giặc lái điên cuồng” (road rage) như là hiện thân và là sự-kịch-tính-hóa của những cơn giận hình thành bởi bị mất tập trung vào chiếc xe và đường đi một cách đột ngột

 [G10]Collective Connoisseurship – bản dịch này vừa có nghĩa là con mắt của người trần trên địa cầu cũ kỹ này, vừa có nghĩa là cái nhãn quan quý báu có thể “địa” tốt được những thứ vừa mắt lẫn những thứ chướng mắt một cách mau lẹ - chú thích của người dịch

GS

(còn tiếp)

blog comments powered by Disqus
What’s new
M!osaic with full music radio. All secret informations about everything you can guess or cannot guess.
About Us
Contact
Privacy
Term of Use
CAMA
Art Of Rock
Hanoi Sound Stuff 2010